Kênh Vĩnh Tế là một công trình thủy lợi vĩ đại chảy dọc biên giới Tây Nam suốt 200 năm qua, mang trong mình cả mồ hôi, xương máu của hàng vạn người xưa lẫn phù sa nuôi sống bao thế hệ. Hãy cùng Miền Tây Du Ký lần theo dấu chân tiền nhân để hiểu vì sao con kênh này lại mang tầm vóc lịch sử lớn lao đến vậy.
Kênh Vĩnh Tế bắt đầu từ sông Châu Đốc thuộc phường Châu Đốc, tỉnh An Giang, chạy song song với đường biên giới Việt Nam và Campuchia, rồi nối vào sông Giang Thành thuộc xã Giang Thành. Tuyến kênh đi qua địa bàn các xã, phường: Châu Đốc, Vĩnh Tế, Thới Sơn, Tịnh Biên, Ba Chúc, Vĩnh Gia, Vĩnh Điều và Giang Thành thuộc tỉnh An Giang.
Kênh dài khoảng 87km, rộng 30m, là công trình kênh đào thủ công có quy mô lớn bậc nhất vùng Tây Nam Bộ, đủ sức cho tàu bè trọng tải hơn 100 tấn lưu thông qua lại.
Công trình kênh Vĩnh Tế được khởi công vào ngày rằm tháng Chạp năm Kỷ Mão, tức năm 1819, dưới sự chỉ huy của Trấn thủ Vĩnh Thanh Nguyễn Văn Thoại, tức Thoại Ngọc Hầu, cùng các chỉ huy khác là Chưởng cơ Nguyễn Văn Tuyên và Thống chế Điều bát Nguyễn Văn Tồn. Ngay trong đợt đầu tiên, đã có khoảng 5.000 nhân công được chiêu mộ từ thường dân và binh lính người Việt, cùng 500 người khác thuộc quân đội Uy Viễn Đồn tham gia thi công.
Trước khi công trình khởi động, vua Gia Long đã ban sắc dụ cho dân Vĩnh Thanh, trong đó có đoạn: “Đào con sông này công việc rất khó nhọc. Kế sách của nhà nước, mưu hoạch về biên thùy, đều quan hệ không nhỏ. Các ngươi dẫu ngày nay khó nhọc, mà thực có lợi cho muôn đời. Vậy nên bảo nhau, đừng sợ khó nhọc”.
Công trình được thực hiện qua ba đợt thi công trải dài suốt 5 năm. Đến đợt cuối cùng vào tháng 2 năm Giáp Thân, tức 1824, đoạn kênh còn lại chỉ khoảng 1.700 trượng, tương đương hơn 4.350m tính từ cuối rạch Giang Thành trở vào. Việc đào kênh đợt này được đẩy mạnh với sự hỗ trợ của Phó Tổng trấn Trần Văn Năng, huy động đến 25.000 nhân công, bao gồm cả người Việt và người Chân Lạp, thi công không kể ngày đêm. Kênh chính thức hoàn thành vào ngày mùng một tháng 5 năm 1824. Tổng cộng trong suốt quá trình, công trình đã huy động hơn 80.000 nhân công tham gia đào bằng sức người, với công cụ hoàn toàn thô sơ.
Trải qua hai đời vua triều Nguyễn là Gia Long và Minh Mạng, kênh Vĩnh Tế cuối cùng cũng được hoàn thành trọn vẹn. Đến năm Minh Mạng thứ 16, tức 1835, nhà vua cho đúc Cửu đỉnh làm quốc bảo, và hình ảnh kênh Vĩnh Tế đã được chạm khắc trên Cao đỉnh, một trong chín chiếc đỉnh đồng ấy, như một cách lưu danh công trình vào sử sách. Cũng chính vì công lao to lớn của bà Châu Thị Tế, vợ của Thoại Ngọc Hầu, trong việc giúp chồng đào kênh, mà nhà vua đã lấy tên bà đặt cho dòng kênh này.
Nhìn tổng thể, kênh Vĩnh Tế được ví như một chiến hào nhân tạo, đủ dài, đủ rộng và đủ sâu để ngăn chặn âm mưu, hành động xâm lấn từ bên ngoài. Có thể thấy, việc thiết kế và thi công tuyến kênh chạy sát đường biên giới đã thể hiện tầm nhìn vượt thời đại của vua quan nhà Nguyễn, để lại một chiến lũy vừa hiên ngang vừa thơ mộng giữa vùng biên cương cho đến tận hôm nay.
Song song với việc đào kênh, Thoại Ngọc Hầu đã cho lập 5 làng dọc theo bờ kênh gồm Vĩnh Nguơn, Vĩnh Tế, Vĩnh Điều, Vĩnh Gia và Vĩnh Thông. Trong 5 làng ấy, hiện nay có 3 nơi vẫn còn đồn Biên phòng trú đóng là Vĩnh Nguơn, Vĩnh Điều và Vĩnh Gia, tiếp nối truyền thống giữ đất của cha ông từ gần 40 năm quân ngũ của các thế hệ chiến sĩ Biên phòng An Giang.
Không chỉ dừng lại ở vai trò xác lập chủ quyền, kênh Vĩnh Tế còn là hành lang chiến lược nối liền Châu Đốc và Hà Tiên, làm chỗ dựa cho quan binh nhà Nguyễn trấn giữ biên cương trước các cuộc xâm lấn của quân Xiêm, Chân Lạp thời bấy giờ. Trong kháng chiến chống Pháp, kênh đóng vai trò cầu nối giữa chiến trường Đông Nam Campuchia với chiến trường miền Tây Nam Bộ, góp phần phá vỡ chiến lược phong tỏa biên giới của địch. Đến thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, kênh Vĩnh Tế lại trở thành đầu cầu chiến lược cho công tác chi viện nhân lực, vật lực từ Trung ương về khu Tây Nam Bộ. Trong cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam, dù xóm làng ven kênh từng bị tàn phá nặng nề, quân và dân ta vẫn kiên cường bám giữ đất, dựng phòng tuyến phản công và giành chiến thắng.
Bên cạnh giá trị lịch sử và quân sự, kênh Vĩnh Tế còn mang ý nghĩa to lớn về mặt kinh tế, được người dân ví như “dòng sữa mẹ” nuôi dưỡng cả một vùng đất. Ngoài việc tiếp nước cho các kênh nhánh khác như Trà Sư, Tha La, Võng Xã, T3, T4, T5, kênh còn san sẻ nguồn thủy sản tự nhiên phong phú cho cư dân đôi bờ.
Trước đây, các xã vùng cao như Văn Giáo, An Cư, Vĩnh Trung thuộc thị xã Tịnh Biên vốn khô cằn quanh năm, mỗi năm chỉ trồng được một vụ lúa. Đến năm 1990, Nhà nước xây dựng Trạm bơm 3/2 lấy nước từ kênh Vĩnh Tế, mang nước tưới đến gần 1.500ha ruộng đồng, giúp năng suất lúa tăng từ khoảng 4,5 tấn/ha lên 5,4 đến 7,3 tấn/ha, đời sống người dân theo đó cũng khấm khá hơn.
Một dấu mốc quan trọng khác là vào tháng 7/1996, khi Thủ tướng Võ Văn Kiệt quyết định cho đào tuyến kênh T5, còn gọi là kênh Võ Văn Kiệt, dài 36,7km, đưa nước ngọt từ kênh mẹ Vĩnh Tế xuyên qua vùng Tứ giác Long Xuyên ra đến biển Tây. Đến tháng 8/1997, khi kênh T5 chính thức khơi thông dẫn nước từ Vĩnh Tế vào, vùng đất Lạc Quới, huyện Tri Tôn từng bỏ hoang, nhiễm phèn đã thay đổi hoàn toàn. Đất ruộng không còn bỏ hoang, lúa trồng quanh năm, người dân về sinh sống ngày càng đông, xóm làng trở nên trù phú. Nhờ tuyến kênh này, chương trình khai thác Tứ giác Long Xuyên sau 10 năm, từ 1989 đến 1999, đã thành công, góp phần đưa sản lượng lúa của An Giang vào nhóm dẫn đầu cả nước.
Vào mùa nước nổi, kênh Vĩnh Tế đưa nước tràn vào đồng ruộng, cũng là lúc cá từ Biển Hồ xuôi theo dòng nước về các cánh đồng, mang lại nguồn thu nhập từ nghề đánh bắt cá cho hàng trăm hộ dân nghèo ven kênh. Những loại rau thủy sinh như bông súng, điên điển cũng theo con nước mà sinh sôi, giúp hàng nghìn người có thêm nguồn sống ổn định trong bốn tháng mùa nước nổi.
Ngày nay, bên cạnh vai trò trị thủy và quốc phòng, kênh Vĩnh Tế còn được đánh giá là điểm đến giàu tiềm năng khai thác du lịch. Du khách có thể tham quan bằng thuyền dọc theo dòng kênh, khám phá cảnh quan thiên nhiên và nhịp sống ven sông, tìm hiểu văn hóa, lịch sử của vùng đất và con người nơi đây, đồng thời trải nghiệm đời sống thương hồ đặc trưng cùng khung cảnh mùa nước nổi.
Dọc theo hành trình từ du lịch Châu Đốc qua Tịnh Biên, Tri Tôn cho đến Giang Thành, du khách sẽ bắt gặp nhiều sắc thái khác nhau, nơi phố thị biên thùy sầm uất, nơi thôn xóm bình yên, nơi ruộng đồng bát ngát trải dài đến tận chân trời.
Suốt 200 năm qua, kênh Vĩnh Tế vẫn lặng lẽ chảy dọc biên cương, mang trong mình câu chuyện về những con người dám nghĩ, dám làm, dám đánh đổi mồ hôi công sức cho một tầm nhìn vượt thời đại. Đó không chỉ là một công trình thủy lợi, mà còn là chứng nhân lịch sử, là chiến hào bảo vệ chủ quyền, và cũng là dòng nước nuôi sống bao thế hệ người dân miền Tây Nam Bộ. Nếu có dịp ghé thăm An Giang để tận mắt chiêm ngưỡng dòng kênh lịch sử này, đừng quên chuẩn bị một chiếc balo gọn nhẹ từ Miền Tây Du Ký để thoải mái rong ruổi dọc bờ kênh, ghé thăm những ngôi làng ven sông và cảm nhận trọn vẹn hơi thở của vùng đất biên viễn đầy tự hào,
